CHÙA PHÚ GIA (CHÙA BÀ GIÀ)

Chùa Bà Già tên chữ Bà Già tự, ở làng Phú Gia, phường Phú Thượng, quận Tây Hồ, là một công trình kiến trúc Phật giáo, có niên đại hơn 1.000 năm. Chùa được công nhận Di tích Lịch sử Văn hóa năm 1996.

Chùa Bà Già có tên gọi theo địa danh thôn là chùa Phú Gia. Xa xưa, làng Phú Gia có tên là Bà Già hương, sau đổi thành An Dưỡng phường. Đến thời Trần, nhà vua huy động nhân dân phường An Dưỡng xuống sửa lại đền Đông Bộ Đầu và đắp thành Đại La để chống quân Nguyên xâm lược nên mới đổi tên là làng Phú Gia.

Ở địa phương lưu truyền câu chuyện kể rằng, khi chùa An Dưỡng bị thời gian, mưa nắng hủy hoại, có 2 bà già đã phát tâm bồ đề bỏ tiền riêng ra tu tạo chùa, dựng thêm tượng Phật, đúc chuông đồng, dựng gác chuông. Quả chuông đúc năm 1665 đó hiện còn lưu giữ tại chùa, có khắc chữ “Trùng tạo trú hồng chung”. Để ghi nhớ công đức của hai bà, dân làng có đặt tượng thờ tại chùa, gọi là tượng hậu phật.

Chùa Bà Già nằm bên bờ hữu ngạn sông Hồng, cách cầu Thăng Long khoảng 1 km. Chùa là một công trình kiến trúc Phật giáo khá sớm. Từ thời Lê, chùa đã có quy mô to lớn nổi tiếng. Chùa được xây dựng trên một khu đất rộng, thoáng gọi là “Quy độ đầu”, thế đất hình con rùa nằm ở phía bắc của làng. Chùa quay về hướng Nam, bên trái là vườn cây ăn quả và hồ nước rộng, phía sau chùa là đường đê và sông Hồng.

Theo tư liệu trên tấm bia “Bà Già tự bi ký” dựng tại chùa, chùa Bà Già được trùng tu lớn vào tháng hai tiết Xuân năm Dương Hòa thứ hai (1636). Bài văn trên quả chuông “Trùng tạo trú hồng chung Bà Già tự” niên hiệu Chính Hòa thứ 16 (1665) cho thấy: Chùa Bà Già được xây dựng trước năm 1636. Đến nay, chùa đã trải qua nhiều lần trùng tu, sửa chữa. Chùa có bố cục mặt bằng kiểu chữ “công”. Từ ngoài vào chùa có các công trình: Cổng tam quan, nhà tiền đường, thượng điện, nhà thờ tổ, thờ mẫu, tăng phòng, hai nhà dải vũ, công trình phụ. Các công trình được bố cục hài hòa trong một không gian rộng thoáng, những nếp nhà cổ ẩn mình dưới những tán cây xanh mát mẻ.

Tam quan chùa làm kiểu gác chuông, mái chồng diêm hai tầng tám mái, lợp ngói ta, cửa mở thông bốn phía, tám đầu đao đắp hình hồi long, vì kèo đỡ mái bằng gỗ kiểu đơn giản “chồng rường” trang trí bào trơn, kẻ soi. Tầng trên treo quả chuông lớn. Qua tam quan đến vườn và sân chùa lát gạch vuông. Liền phía sau sân là chùa chính kết cấu kiểu chữ đinh.

Nhà tiền đường bảy gian, xây kiểu trường hồi bít đốc, mái lợp ngói ta, bờ nóc đắp kiểu bờ đinh, phía trước hai hồi xây hai trụ biểu, đỉnh trụ đắp hình hồi văn cách điệu thành hình bốn con phượng, đầu quay bốn hướng. Bộ khung đỡ mái gồm tám bộ vì làm kiểu “chồng rường – giá chiêng”. Mặt bằng nội thất gồm sáu hàng chân cột gỗ, cột làm kiểu “thượng thu – hạ thách” đặt trên các chân tảng tạo kiểu quả bồng cao 41 cm. Nền nhà lát gạch vuông. Hai bức cốn với kỹ thuật chạm nổi trau chuốt, nghệ thuật với các đề tài quen thuộc thường gặp ở các công trình kiến trúc cổ như: “Tùng, Cúc, Trúc, Mai”. Các đầu bẩy chạm hình hoa và vân mây.

Tòa thượng điện gồm ba gian được làm nối liền với nhà tiền đường, xây dọc về phía sau kiểu tường hồi bít đốc, mái lợp ngói ta. Bộ khung nhà làm bằng gỗ lim một vì kèo nối liền với gian giữa nhà tiền đường. Mặt bằng gồm bốn hàng chân cột gỗ tròn đỡ mái. Có bốn bộ vì kèo đỡ mái làm kiểu “chồng rường”.

Tượng thờ trong Tam bảo của chùa được bài trí, tuân thủ nghiêm ngặt nguyên tắc của giáo lý Đạo Phật như ở các ngôi chùa khác. Hiện nay, tại chùa còn lưu giữ bộ di vật khá phong phú và đa dạng, gồm: 58 pho tượng tròn, trong đó, tượng Phật gồm 46 pho, tượng Tổ 1 pho, tượng Mẫu và các tượng khác 11 pho. Các pho tượng đều được tạo tác công phu, tinh xảo, sơn son thiếp vàng lộng lẫy, mang phong cách nghệ thuật của thế kỷ XVII, XVIII, XIX.

Ngoài ra, chùa còn giữa được một số hiện vật: Hai quả chuông, trong đó có chuông “Trùng tạo trú hồng chung Bà Già tự” niên hiệu Chính Hòa thứ 16 (1665). Chuông cao 146 cm, đường kính rộng 86 cm, bốn mặt chuông khắc chữ Hán, dòng chữ trên chuông khắc trong hình lá đề. Đồ gỗ có 10 đôi câu đối sơn son, trong đó, có hai đôi hình lòng mo phủ gấm. Các câu đối của chùa có nội dung ca ngợi cảnh đẹp của chùa và ca ngợi Phật pháp. Bốn bức hoành phi, một cỗ kiệu long đình. Tám tấm bia đá được tạo tác bằng đá xanh trắng mịn. Trong số đó có tấm bia lớn nhất ghi “Bà Già tự bi ký” cao 90 cm, rộng 51 cm, bia niên hiệu Dương Hòa thứ hai (1636)… Đó là những di vật lịch sử quý, giúp cho hậu thế hiểu được lịch sử sâu xa của một làng quê và vẻ đẹp thiền tịnh của chùa Bà Già.

[embeddoc url=”/wp-content/uploads/2017/10/Chùa-Phú-Gia-chùa-Bà-Già.docx” width=”0px” height=”0px” download=”all” viewer=”microsoft” text=”Tải xuống: chua phu gia (chua ba gia).docx”]

Hits: 900

Leave a Reply

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *