Chùa Hải Giác (Đan Phượng)

Chùa Hải Giác (Hải Giác Tự) thuộc làng Hạ Mỗ, huyện Đan Phượng nằm bên hữu ngạn sông Nhuệ cổ, cách trung tâm Hà Nội 20km về phía Tây Bắc.

Chùa Hải Giác hiện nay còn khá nguyên vẹn, là một ngôi chùa lớn đồ sộ trong vùng. Nhà đại đường cấu thành bởi năm tòa ngang dọc nối tiếp liên hoàn. Đối diện với đại đường là tam quan, hai bên là nhà Tổ và điện Mẫu. Bài ca về chùa Hải Giác được lưu truyền có câu:

“Chùa làng có đủ trăm gian
Nội công ngoại quốc rõ ràng chẳng sai”
Theo truyền thuyết, chùa Hải Giác ra đời từ thế kỷ thứ VI, nghĩa là từ khi Hạ Mỗ có địa vị trung tâm của đất nước, kinh đô một thủa của nhà nước Vạn Xuân.
Chùa Hải Giác được xây dựng trên khu đất bằng phẳng ở rìa làng. Các kiến trúc bộ phận được bố trí chiều sâu theo trục chính là Đông Nam – Tây Bắc. Phía trước là tam quan, sau đến sân gạch rộng, hai bên sân là hai dãy nhà Tổ, nhà Mẫu nằm song song. Cuối cùng là tòa đại đường. Bao quanh khu kiến trúc là giếng nước dựng lầu Quan Âm, vườn Tháp, vườn cây xanh rộng lớn để tạp ra không khí thanh u tĩnh mịch cho cửa Thiền, đem lại sự hài hòa giữa kiến trúc với môi trường tự nhiên, tạo cho di tích những vẻ đẹp độc đáo gần gũi với cuộc sống con người.
Lầu Quan Âm
Tam quan là một nếp nhà ba gian, hai tầng tám mái. Tầng trên treo chuông, khánh, bên dưới bốn bề thoáng đạt tiện dụng trong sinh hoạt hàng ngày. Từ Tam quan vào Tam bảo, cũng như từ nhà Tổ sang điện Mẫu qua một sân rộng hơn 300m2, có rất nhiều chân đá tảng cũ được xếp thành hàng dài sát chân hè chùa. Đặc biệt ở hai bên hậu đường, mỗi bên có một cửa ra vào, nhân dân địa phương gọi là cửa thoát tục.
Nhà Tổ nằm ở bên phải sân chùa gồm 5 gian, trong cùng đặt 10 pho tượng các sư tổ. Đôi câu đối ở gian giữa ca ngợi vị sư tổ, nhà yêu nước, hữu quân chánh tướng trong phong trào chống Pháp những năm cuối thế kỷ 19 như sau:
Vị quốc xả thân vạn đại Tổ sư danh bất hủ
Cứu dân độ thế ức niên chân lý đức lưu hinh
(Vì nước bỏ mình, muôn đời danh tiếng Sư tổ không bao giờ mất.
Cứu dân giúp đời, vạn kiếp đức của người là chân lý mãi tỏa hương)
Điện Mẫu nằm đối diện với nhà Tổ. Hai nếp nhà này có quy mô và kiến trúc giống nhau. Trong điện Mẫu có đủ nhóm tượng Tam phủ (Mẫu Thiên, Mẫu Thủy, Mẫu Nhạc)…, có động Sơn Trang và ban thờ thần Trần Triều hiển Thánh.
Gác chuông
Khu chùa chính của chùa Hải Giác vẫn bảo lưu được quy hoạch trên mặt bằng kiến trúc của ngôi chùa thời Lê là tiền đường, thượng điện cùng những dãy hành lang bao quanh.
Là ngôi chùa cổ có niên đại ra đời sớm và được hoàn thiện trong thời Lê nên Phật điện của chùa Hải Giác khá đồ sộ, phong phú, đặc trưng cho một Tam bảo của chùa Lê điển hình. Các pho tượng tròn được phân bố đậm đặc trong khu chùa chính và ba dãy hành lang bao quanh. Chùa Hải Giác hiện nay còn lưu giữ được hơn 200 pho tượng lớn nhỏ, trong đó có 50 pho tượng tròn là những tác phẩm nghệ thuật có giá trị cao.
Tại tòa thượng điện, trên vị trí trang trọng ở hàng thứ nhất là 3 vị Tam Thế đang ngồi kết già trên tòa sen. Hàng thứ hai là bộ Di Đà tam tôn gồm A Di Đà và hai bên có hai Đại bồ tát Quan Thế âm và Đại Thế chí thị giả. Hàng thứ ba là tượng Di Lặc, Văn Thù, Phổ Hiền ngồi trên lưng bạch tượng. Hàng thứ tư là tượng Thích Ca thiền định. Tám pho tượng lớn đều ngự trên tòa sen, có vân xoáy trên đầu. Hàng thứ năm là tượng Ngọc Hoàng ngồi trên long ngai, hai bên có Nam Tào, Bắc Đẩu. Hàng thứ sáu, Thích ca sơ sinh trong tòa Cửu Long, hai bên có Phạm Thiên, Đế Thích. Ở hai góc cuối thượng điện có Quan Âm Thị Kính (bên phải) và Quan Âm Thiên Thủ (bên trái). Hai bên sườn thượng điện là Thập điện Diêm Vương, phía tiền đường có hai pho Kim Cương lớn, còn gọi là hai ông Hộ Pháp (Khuyến Thiện và Trừng ác).
Bên trái tiền đường, thờ Đức Ông và hai quan văn võ tùy tòng. Đối xứng với ban tượng này về phía bên phải có nhóm tượng gồm Thánh Tăng, Diệu Nhiên và Đại Sĩ. Dọc theo hai bên tường hồi, tượng được bài trí giống nhau, mỗi bên gồm bốn vị kim cương và hai Bồ Tát, cả hai tập hợp hoàn chính là Bát bộ Kim Cương, Tứ Bồ Tát. Hai dãy hành lang song song với thượng điện được dùng làm nơi tọa lạc của 18 vị La Hán. Tượng được thể hiện trong nhiều tư thế khác nhau, tiêu biểu cho cá tính và đặc trưng của từng người.
Nhà hậu đường trong cùng được dùng làm Mặt động và dựng 25 tấm bia hậu để biểu dương những người công đức. Trong đó có 5 bức tượng phù điêu của thời Lê.
Bên cạnh giá trị nghệ thuật, chùa Hải Giác còn có những đóng góp vào sự nghiệp giải phóng dân tộc. Cuối thế kỷ XIX, hưởng ứng phong trào Cần Vương chống thực dân Pháp xâm lược của tầng lớp sĩ phu, sư cụ Thanh Trang, trụ trì chùa Hải Giác đã trực tiếp tham gia lãnh đạo các cuộc nổi dậy của nghĩa quân trong vùng. Trong cuộc nổi dậy đánh thành Hà Nội đêm ngày 5 rạng mồng 6/12/1898, cụ là Hữu quân chánh tướng. Kế hoạch không thành vì bại lộ, sư cụ Thanh Trang cùng các tướng lĩnh khác bị thực dân Pháp truy bắt và tàn sát dã man.
Cây duối nơi cụ Thanh Trang hi sinh nay được dân làng lập bia tưởng nhớ
Tấm gương chiến đấu hy sinh của nhà sư yêu nước Thanh Trang đã góp phần làm giàu thêm truyền thống yêu nước của Phật tử và nhân dân địa phương và rạng danh ngôi chùa Hải Giác. Hiện cây duối sau vườn chùa Hải Giác, nơi cụ Thanh Trang ngã xuống vẫn xanh tốt. Nhân dân Hạ Mỗ dựng bia căm thù để ghi nhớ công ơn của Sư Tổ với quê hương đất nước. Di hài của cụ được đặt trong “Trang Nghiêm bảo tháp”.
Hàng năm, ngoài các tiết sóc vọng lễ tết của dân làng, Lễ hội chùa Hải Giác được tổ chức long trọng vào ba ngày: Rằm tháng Tư – Phật đản, Rằm tháng Bảy – Lễ Vu Lan và Rằm tháng Mười một – ngày hi sinh của Đức Tổ Thanh Trang. Tháng 10/1991, Bộ Văn hóa – Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) đã xếp hạng chùa Hải Giác là Di tích kiến trúc nghệ thuật cấp Quốc gia.

Hits: 1546

Leave a Reply

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *