Chùa Bối Khê (Thanh Oai)

Chùa Bối Khê có tên chữ là Đại Bi tự, xã Tam Hưng, huyện Thanh Oai, là một trong những ngôi chùa gỗ cổ nhất Việt Nam với niên đại 600 năm tuổi. Ngày 20/4/1979, Bộ trưởng Bộ Văn hóa – Thông tin đã công nhận chùa Bối Khê là di tích kiến trúc nghệ thuật cấp Quốc gia đặc biệt.

Chùa Bối Khê

Theo sử sách thế đất của Bối Khê có đầy đủ cả Tứ linh và Ngũ xà, trên những phiến và dải đất cao mang dáng hình những con vật (Long, Ly, Quy, Phượng, Xà). Thời Hai Bà Trưng khởi nghĩa năm 40, đây gọi là “Trầm Bối Trang” đã có làng mạc đông vui và Hai Bà Trưng đã cùng đại quân qua đây lấy thêm lương thực và bổ sung thêm quân số. Chỗ Hai Bà nghỉ lại, chỗ đóng quân cùng với gò đống, cánh đồng của làng có các nhiều tên khác nhau từ đây như: Vườn Đào, gò Đống Hai, xứ Đồng Văn, Màn Đen, Man Vôi, Man Xim, Man Cuốc và Cánh Đồng Cái.
Ở vùng Thanh Oai từ nhiều đời nay đã có câu truyền ngôn “Đỗ Đông Giang Khai Thanh Oai sinh Thánh”. Sông Đỗ Đông nối sông Đáy với Sông Nhuệ, có đoạn chảy qua Bối Khê đã cạn Thành Dộc, ở thế kỷ 14 còn chảy mạnh. Thánh Bối Khê là người có thực, đó là vị thiền sư đắc đạo sống giữa thời Trần. Ngài thuộc dòng họ Nguyễn sinh năm Tân tỵ (1281) đời vua Trần Nhân Tông, năm 7 tuổi ngài mồ côi cả cha và mẹ, phải ở nhà cô để chăn trâu cắt cỏ. Sớm có lòng từ bi hướng Phật. Ngài thường lui tới chùa làng nghe giảng Kinh vào mùa hanh khô, thường rủ bạn bè tát cả vũng nước đem tôm cá bắt được thả ra sông hay lấy đất nặn chùa, nặn tượng và đem cơm nắm oản cũng lễ.
Vốn thông minh tuấn tú và thông tuệ khác thường, khi cậu của Ngài mời thầy về dạy cho con thì Ngài thường đứng ngoài cửa nghe, ông thầy thấy ham học đem lòng yêu mến nên đã dạy thêm cho về ban đêm. Sau Ngài thành người tài cao học rộng và có tấm lòng từ bi vô lượng. Năm 15 tuổi Ngài xuất gia lấy hiệu là Đức Minh Tự nghĩa là Bình An đến tu ở chùa Trang An tục gọi là chùa Sở, cạnh núi Đồng Lanh, xã Tiên Lữ Hoài Đức, làm môn đệ của Thiền Sư Phạm Cốc nổi tiếng bấy giờ.
Năm 1205, Ngài vào chùa Hương Tích thỉnh giáo Long Vương Châu Nhân, học được phép Đảo Vũ. Năm Hưng Long thứ 13 (1307 đại hạn, Vua Trần Anh Tông triệu ngài về kinh Thăng Long làm lễ cầu đảo được trận mưa suốt 3 ngày, do đó, nhà vua đã tặng ngài bốn chữ “Đức Minh Châu Nhân”. Khi đang ở kinh đô được tin sư trưởng quy tiên, Ngài về chịu tang, đến bến đò Đông Dương (Thanh Oai) thì trời tối, mọi người hốt hoảng vì gần đấy có tiếng hổ gầm, thấy vậy Ngài đọc thần chú, liền có chiếc thuyền hiện ra đưa mọi người qua sông.
Sau 3 năm chịu tang thầy, Ngài về thăm quê (Bối Khê), đến trước mộ cha mẹ khấn vái, tự nhiên trời tối sầm sáu khắc rồi có nấm hình chữ nhật nổi lên, các thửa ruộng đều dãn ra nên không nhà nào mất ruộng. Trở lại Tràng An thấy chùa hư nát, Ngài cho xây dựng lại. Ngày khởi công, thợ và nhân dân các nơi đến quá đông, gần trưa ngài lấy gạo cho vào nồi đất và bảo mọi người nấu cơm. Cơm đang sôi Ngài nói với mọi người rằng chưa có thức ăn nên thấy sẽ về Bối Khê xin cà và muối, nói rồi Ngài nhún chân không thấy đâu nữa, khi cơm cạn Ngài đã quay về đến nơi, ngài đi mây về gió, các dấu tích vẫn còn ở làng Tiên Lữ, Đồng Hoàng Thượng Thanh, Bối Khê, khi qua Bình Đà, một quả cà đã rơi xuống liền tạo thành giếng, ngài đem cà và muối bầy đầy đủ một trăm đĩa, xới đủ một trăm mâm, một trăm mâm xới hết lại đầy.
Đến năm 95 tuổi (1375) ngài cho làm một khám son để ở mé tả điện trong chùa, mời dân trong vùng và học trò đến dặn rằng “nay thấy số trời đã hết, thầy vào khám ngồi đủ một trăm ngày, thơm thì thờ, tanh hôi thì cho an táng ở sau chùa. Nhưng mới được 3 tuần thì có hương thơm và hào quang toả ra, mọi người vui mừng đem hương cúng tế và báo cho các làng. Sau đó Bối Khê cùng mười làng xung quanh mang kiệu đến rước bát Phủ Hương và thờ và nhận anh em kết nghĩa với làng Tiên Lữ (sau này ngày hội chính ở Tiên Lữ là mùng 4 tháng giêng, ở Bối Khê là ngày 12 tháng giêng).
Sự tích Đức Thánh Bối nhiều chi tiết giống sự tích của hai Thánh Từ Đạo Hạnh và Nguyễn Minh Không đời lý 1225, có phép khinh công đi mây về gió. Sau Đức Thánh Bối đời đầu Lê, vùng đất Bối Khê còn có hai nhân vật nổi tiếng được giới nho học đặc biệt ngưỡng mộ và ghi vào sử sách là hai cha con cụ Nguyễn Thi Trung, Nguyễn Trực (Lưỡng quốc Trạng Nguyên) Sau hai cha con cụ Thi Trung vào thời Lê, Bối Khê còn ba vị đỗ đại khoa là Nguyễn Quỳnh, Hoàng Bá Dương, Lê Huy Trâm.
Thời Lê Trung Hưng, ở Bối Khê còn có hai quận Công Võ là Lê Đình Thọ và Lê Tiến Quý. Năm 1945 đến 1954 Bối Khê được xứng đáng là làng tiêu tiểu trong kháng chiến chống Pháp, có 3km hầm địa đạo, có liệt Trần Duy Phương và nhiều người con khác của làng đã đóng góp xương máu của mình cho sự nghiệp giải phóng đất nước.
Chùa Bối Khê là di tích kiến trúc nghệ thuật cấp Quốc gia đặc biệt. Người thăm quan vào chùa qua hệ thống cổng ngũ môn và cầu là tới tam quan gồm ba gian bằng gỗ theo kiểu hai tầng tám mái. Phía trên tam quan là gác chuông. Tam quan được dựng vào năm 1603 thời Lê Trung hưng. Hạng mục kiến trúc này vừa được sửa chữa vào năm 2006. Kiến trúc chính của chùa Bối Khê được bố cục theo kiểu “tiền Phật, hậu Thánh”, trên diện tích 5.000m2. Việc thờ Phật được bố trí ở tòa tiền đường và tiền bái. Tiếp đó đến tòa thiệu hương và thượng điện là nơi thờ thánh. Nhìn tổng thể, ngôi chùa có hình “nội công ngoại quốc” bởi hai bên có hai dãy hành lang.
Chùa thờ Phật và còn thờ đức Thánh Bối, quê ở Bối Khê, đến tu ở chùa Tiên Lữ (nay thuộc xã Tiên Phương, huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Tây), được chính quả và đã thành Thánh. Đáng chú ý ở tòa tiền đường là hệ thống cột bằng đá xanh. Trên các cột đá có chạm nhiều đôi câu đối ca ngợi cảnh chùa. Bên trái tiền đường có một am nhỏ thờ bà công chúa thời Mạc đã có công tu sửa chùa. Hai dãy hành lang ở hai bên được xây dựng song song, mỗi bên có bảy gian. Nơi đây thờ 18 vị La Hán.
Chùa Bối Khê còn nhiều hiện vật quý giá như có tới 10 tấm bia, trong đó bia cổ nhất là “Bối động thánh tích bi ký” có từ năm Thái Hòa thứ 11 (1453) nhưng cũng là tấm bia mới nhất vì được khắc lại năm Thành Thái thứ 7 (1895) kể lại sự tích đức Thánh Bối với nhiều tình tiết ly kỳ. Tiếp theo là bia “Đại bi tự” dựng năm Hồng Thuận thứ 7 (1515) ngoài việc nói thêm về đức Thánh Bối còn cho biết việc tu sửa chùa ở đầu thế kỷ XVI. Hiện vật đá đặc biệt quý hiếm là chiếc bệ hoa sen khối hộp, các góc chạm chim thần, trên chạm đài sen, dưới chạm sập thờ, mặt trước có chạm rồng và nhiều loài thú, do vị đạo sỹ ở Quốc Oai cúng tiến. Ngày 20/4/1979, Bộ VHTT đã công nhận chùa Bối Khê là di tích kiến trúc nghệ thuật cấp Quốc gia đặc biệt.

Hits: 1947

Leave a Reply

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *