ĐÌNH CỰ CHÍNH

Đình Cự Chính ở địa bàn phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân, Hà Nội. Đình còn có tên là đình “Con Cóc”.

Đình được xây dựng trên một dải rất rộng với một thế đất đẹp: Ao đình được ví như là đĩa mực, gò trên ao đình là nghiên mực, con đường phía trước là cây bút gác lên đĩa mực, một thửa đất bên trái là trang sách mở. Mọi người đều cho là đất kỳ lân, lại có ao bút, gò nghiên nên đời đời thịnh vượng, làng có nhiều người đỗ đạt, làm quan to.

Đình thờ Đức Thành hoàng là Lã Đại Liệu, thuộc dòng dõi nhà hào kiệt, quê ở trang Liễu Chử (sau đổi là Liễu Lâm), huyện Siêu Loại, nay là xã Song Liễu, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Ngài là tướng của Ngô Quyền, được phong làm Tả tướng quân. Khi nhà Ngô tan rã, Ngài là một trong 12 sứ quân, chiếm cứ miền Tế Giang (nay thuộc huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên).

Do bị tiêu thổ trong kháng chiến chống Pháp, nên kiến trúc đình bị hư hại nặng, chỉ còn lại một phần kiến trúc cũ là Hậu cung đình. Những năm 90 của thế kỷ XX, nhờ lòng hảo tâm công đức của mọi tầng lớp nhân dân, đình được phục dựng lại với kiến trúc to, rộng, bề thế.

Theo dân làng kể lại thì xưa kia ở hai cột trụ trước cửa đình có đắp nổi hai con Cóc to ngồi đối diện nhau với ước vọng của dân làng là cầu mưa. Đây là một nét đẹp riêng có của đình Cự Chính. Lại có thuyết nói rằng: Tương truyền, thời trước dân Hoa Kinh định xây dựng ngôi đình to, quyên góp suốt hai năm vẫn không đủ tiền, công việc dở dang chưa biết tính liệu thế nào. Có một trai làng làm quan võ cùng cha mẹ vui vẻ mang cóc vàng là chiến lợi phẩm của chàng trai ra đình cung tiến. Dân làng cảm động, biết ơn và quyết định đắp hai con cóc trước cửa đình để mọi người khi ra vào đều nhìn thấy mà nhớ ơn người công đức.

Cạnh cổng đình còn có một giếng đá cổ, miệng giếng được trang trí hoa văn khắc hình cánh sen còn rõ đường nét. Hai bên trụ cổng còn đôi câu đối:

“Giếng đá cổ, hoa văn còn sắc nét

Nhà lục lăng, đáy nước vẫn in hình”

Một số nhà nghiên cứu căn cứ vào nét chạm khắc trên đá ở miệng giếng, cho rằng giếng đã được đào vào thế kỷ XVII hoặc sớm hơn.

Trước mặt đình có vườn cây, có ao đình kè đá, giữa ao có nhà Lục lăng, tạo dáng đầu đao cong mềm mại, nền nhà có đặt bệ đá là nơi tắm Thánh trong ngày lễ hội.

Phía bên trái đình hiện còn một ngôi miếu nhỏ, theo các cụ ở Ban di tích kể lại, trước kia miếu được quan Khâm sai Lê Hoan bỏ tiền cho xây dựng lại ở mé trái trước đình, có tên gọi là Miếu Hai cô. Sau này, khi tiến hành khôi phục lại đình, quy hoạch cảnh quan chung cho hài hoà và phù hợp, dân làng dời Miếu lui về vị trí sau đình một chút. Đình và miếu có lối đi chung là cổng đình.

Tương truyền khi nghĩa quân Lam Sơn bao vây thành Đông Quan (Hà Nội) cuối năm 1426 đầu năm 1427, có một cánh quân đã đóng bản doanh tại chùa Bồ Đề và đình Cự Chính.

Những ngày tháng 8 năm 1945 lịch sử, Hà Nội tưng bừng khí thế cách mạng. Tại sân đình Mọc Cự Chính, đồng chí Lê Đức Vân thay mặt cho Mặt trận Việt Minh tuyên bố xoá bỏ chính quyền cũ, thành lập chính quyền cách mạng và cử đồng chí Nguyễn Trần Đỗ làm Chủ tịch lâm thời của làng Chính Kinh.

Hiện nay tại đình Cự Chính còn lưu giữ nhiều di vật như ngai thờ, kiệu thờ (một phần của bộ kiệu), 21 bia đá và nhiều đồ thờ tự khác. Hằng năm, đình tổ chức tế lễ vào ngày 12 tháng Giêng và 18 tháng Mười âm lịch, để tưởng nhớ công đức Thành hoàng Lã Đại Liệu. Đến ngày 12 tháng Hai năm Đại hội 5 làng thì dân làng Cự Chính lại tổ chức lễ hội với qui mô lớn (xem thêm chương 2).

Đình làng Cự Chính đã được Bộ Văn hoá và Thông tin xếp hạng di tích lịch sử văn hoá cấp Quốc gia vào năm 1990. Ngày 03-10-2008 Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội đã ra quyết định gắn biển Di tích cách mạng – kháng chiến cho di tích đình Cự Chính.

[embeddoc url=”/wp-content/uploads/2017/10/Dinh-Cu-Chinh.docx” width=”0px” height=”0px” download=”all” viewer=”microsoft” text=”Tải xuống: dinh cu chinh.docx”]

Hits: 335

Leave a Reply

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *